Nghiên cứu thiết kế và triển khai hệ thống đỗ xe tự động tại Việt Nam

0
6522

Để có thể góp phần giải quyết được các vấn đề quá tải của các bãi xe truyền thống tại một số thành phố lớn như Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,…. Năm 2014, nhóm nghiên cứu do TS. Lê Hồng Quân, Công ty TNHH sản xuất cơ khí và cầu trục NMC, Bộ Công Thương đứng đầu đã thực hiện đề tài Nghiên cứu thiết kế và triển khai thành công hệ thống đỗ xe tự động tại Việt Nam. Đây được xem là sản phẩm nghiên cứu khoa học mang tính ứng dụng thực tế, phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

Có thể thấy, hệ thống đỗ xe tự động có thể giải quyết được nhiều vấn đề tồn tại của bãi đỗ xe tự lái hiện nay như: dễ mất cắp phụ tùng khi không có camera giám sát, mất nhiều thời gian đưa xe ra và vào do vị trí đỗ chật hẹp nên có thể gây ùn tắc cục bộ trong bãi xe, khó kiểm soát khí thải và tiếng ồn, mất thời gian trong việc tìm vị trí đỗ và lấy xe,…. Bãi đỗ xe tự lái này chiếm khá nhiều diện tích (bình quân 25m2/1 vị trí đỗ xe bao gồm cả vị trí di chuyển).

Hệ thống đỗ xe tự động nhiều tầng là loại kết cấu có trang bị hệ thống nâng để di chuyển xe ô tô từ mặt đất lên điểm đỗ xe ở trên cao (đối với hệ thống nổi) hoặc chuyển xe xuống điểm đỗ ô tô dưới lòng đất (đối với hệ thống ngầm) một cách an toàn tự động, không cần người lái. Sau khi đưa xe vào phòng xe, hệ thống lập trình FLC sẽ tự động đưa xe vào vị trí đỗ, người lái xe không cần thao tác bất kỳ động tác nào ngoài việc bấm nút xe (hoặc nhận thẻ từ hệ thống). Khi cần lấy xe ra, hệ thống thiết bị nâng này sẽ làm việc để đưa xe đến điểm trả xe cố định, lái xe chỉ cần lấy xe ra từ điểm cố định này. Nếu mặt bằng chật hẹp, với bàn xoay 360 độ C và các con lăn định vị xe thì dù người lái xe yếu tay lái nhất cũng dễ dàng đưa xe vào phòng xe. Khi có bất kỳ sự cố nào bất thường trong hệ thống (ví dụ như có người đột nhập, cửa xe bị bật ra,…) thì hệ thống sẽ báo động tức thời về trung tâm xử lý. Do xe không vận hành trong hệ thống nên không gây ra các vấn đề ô nhiễm không khí do chất thải của xe, vì vậy cũng tránh được nguy cơ cháy nổ do xe lưu thông trong hầm. Tùy theo vị trí có thể lắp đặt hệ thống nổi hoặc ngầm.

Sau một thời gian nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã đưa ra được quy trình thiết kế, chế tạo, lắp đặt, thử nghiệm tải và sử dụng hệ thống đỗ ô tô tự động.

Hệ thống này là nền móng để ứng dụng rộng rãi cho các hệ thống, sản phẩm cùng loại hoặc sản phẩm ở mức giản đơn hơn, đáp ứng được nhu cầu của thị trường Việt Nam. Đây cũng là bộ tài liệu tham khảo cho công tác đào tạo về chế tạo, lắp đặt, vận hành, bảo trì, khai thác hệ thống đỗ ô tô tự động.

Qua đã tìm hiểu, nghiên cứu các quy định, tiêu chuẩn của nước ngoài liên quan đến hệ thống đỗ ô tô tự động, nhóm nghiên cứu đã phối hợp với các đối tác để xây dựng bộ tiêu chuẩn cơ sở phù hợp với tiêu chuẩn Việt Nam, làm cơ sở cho Bộ Khoa học và Công nghệ xem xét nâng cấp tiêu chuẩn để ứng dụng rộng rãi.

Việc đưa vào sử dụng khai thác ổn định đã chứng minh được năng lực của đội ngũ kỹ sư Việt Nam cũng như đơn vị sản xuất thiết bị cơ khí. Bước đầu, Việt Nam có thể tự chủ về công nghệ thiết kế, chế tạo, lắp đặt cơ khí trong lĩnh vực chuyên môn về hệ thống đỗ xe ô tô tự động.

Sản phẩm của đề tài nghiên cứu có tính linh hoạt cao, do đó nó có thể đáp ứng được mọi yêu cầu trong quá trình thiết kế về số lượng xe, kiểu dáng xe, trọng lượng xe. Đặc biệt là có thể chủ động thay đổi các bố trí, kết cấu, kiểu dáng bãi đỗ,… để phù hợp với điều kiện không gian bố trí các bãi đỗ nhiều tầng tại Việt Nam.

Hệ thống này cũng cho phép giảm phần kết cấu thép nhập khẩu nước ngoài, nên giá thành giảm rất nhiều so với nhập ngoại (có thể giảm 20-30% so với nhập khẩu nguyên hệ thống). Việc bảo hành, bảo trì cũng sẽ thuận lợi và nhanh chóng. Có thể dễ dàng tháo dỡ và di chuyển hệ thống.

Nhóm nghiên cứu cũng kiến nghị cần đưa hệ thống này vào danh mục hàng hóa được hưởng mức thuế suất = 0% như các loại thiết bị nâng khác. Điều này sẽ giúp giảm giá thành sản phẩm. Nhanh chóng ban hành các tiêu chuẩn liên quan đến hệ thống đỗ xe tự động này để có thể kiểm định hệ thống trước khi đưa vào sử dụng, từ đó tạo ra sự canh tranh bình đẳng giữa các nhà cung cấp thiết bị uy tín và nhà cung cấp chỉ kỳ vọng lợi nhuận.

Toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài (Mã số 10320) tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia.

P.T.T (NASATI)